Với mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2026 - 2030:

1. Mục tiêu tổng quát

Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo định hướng phát triển bền vững; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển HTX nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; mở rộng quy mô, thu hút nông dân, người sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tham gia, để đến năm 2030 đưa HTX nông nghiệp trở thành mô hình kinh tế - xã hội quan trọng ở khu vực nông thôn; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; tăng thu nhập cho người nông dân; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo điều kiện, động lực thu hút đầu tư, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 - Giai đoạn 2026-2030: 

- Thành lập mới 80 HTX nông nghiệp; trong đó, có 22 HTX lĩnh vực trồng trọt (tập trung ở các xã đồng bằng); 05 HTX lĩnh vực chăn nuôi (tập trung ở khu vực trung du, miền núi thấp); 03 HTX lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản (tập trung ở các xã ven biển); 25 HTX lĩnh vực lâm nghiệp (tập trung ở các xã miền núi cao); 25 HTX tổng hợp.

- Thu hút thêm số thành viên tham gia HTX: Giai đoạn 2026-2030 thu hút thêm khoảng trên 41.092 thành viên tham gia HTX (trong đó có hơn 40% là thành viên chính thức).

- Số HTX hoạt động có hiệu quả, thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: 777 HTX, chiếm 88,19% tổng số HTX (trong đó có trên 35% số HTX đạt loại tốt); cụ thể các lĩnh vực: liên kết trong trồng trọt là 341 HTX, liên kết trong chăn nuôi là 31 HTX, liên kết trong thuỷ sản là 11 HTX, liên kết trong lâm nghiệp là 22 HTX; liên kết trong muối là 2 HTX, liên kết tổng hợp là 370 HTX. Các khâu trong liên kết: Khép kín từ dịch vụ đầu vào đến bao tiêu sản phẩm là 699 HTX; cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào là 31 HTX; thu hoạch, bao tiêu sản phẩm là 35 HTX; bao tiêu, sơ chế, khâu tiêu thụ sản phẩm là 12 HTX.

- Trình độ của cán bộ quản lý HTX: Tổng số cán bộ quản lý HTX 5.286 người; trong đó, 100% cán bộ được qua đào tạo, tỷ lệ cán bộ quản lý HTX có trình độ đại học, cao đẳng trở lên là 2.910 người (đạt 55,05%). - Tổng số lao động thường xuyên trong HTX đạt từ 44.050 người trở lên (bình quân 50 lao động/HTX). Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong HTX đạt mức lương tối thiểu vùng.

- Doanh thu bình quân/HTX; lợi nhuận bình quân/HTX tăng ít nhất 5% so với năm liền kề. 4 - Số lượng HTX ứng dụng công nghệ cao: 353 HTX, chiếm 40,07% tổng số HTX; trong đó, số HTX ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi (chăn nuôi theo chu trình khép kín, tự động, bán tự động) là 31 HTX; số HTX ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng thuỷ sản (nuôi thâm canh; tuần hoàn, khép kín) là 11 HTX; số HTX ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt (nhà màng, nhà lưới; tưới nhỏ giọt; tự động hoá trong chăm sóc, thu hoạch) là 311 HTX.

- Số lượng HTX gắn với sản phẩm OCOP: 172 HTX, chiếm 19,52% tổng số HTX; trong đó, có 25 HTX có sản phẩm OCOP 4 sao, 147 HTX có sản phẩm OCOP 3 sao (đối với các HTX có sản phẩm OCOP đã được công nhận: 10% số HTX có sản phẩm OCOP được nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao; 90% các HTX duy trì được các sản phẩm OCOP 3 sao; giai đoạn 2026-2030 phát triển thêm 74 HTX có sản phẩm OCOP: 15 HTX có sản phẩm OCOP 4 sao, 59 HTX có sản phẩm OCOP 3 sao.

- Số lượng HTX nông nghiệp áp dụng biện pháp thực hành nông nghiệp tốt (GAP): 278 HTX, chiếm 31,55 % tổng số HTX; trong đó, số HTX áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong chăn nuôi là 31 HTX (chăn nuôi lợn; gia cầm); số HTX áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong nuôi trồng thuỷ sản là 15 HTX (nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng); số HTX áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong trồng trọt là 232 HTX (áp dụng cho sản phẩm rau; lúa, ớt).

- Số HTX ứng dụng chuyển đổi số vào trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: 458 HTX, chiếm 52,0% tổng số HTX; trong đó, số HTX ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý tài chính, kế toán là 458/458 HTX; số HTX ứng dụng chuyển đổi số trong công tác sản xuất, điều hành sản xuất là 92/458 HTX; số HTX ứng dụng chuyển đổi số trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm là 229/458 HTX; số HTX ứng dụng chuyển đổi số trong tiêu thụ sản phẩm là 46/458 HTX.

- Xây dựng 132 mô hình HTX nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số, có sản phẩm gắn với chuỗi giá trị, phát triển bền vững.